Ba ngày làm vợ, một kiếp đợi chờ - Tháp Long Thọ

Ba ngày làm vợ, một kiếp đợi chờ

Ba ngày làm vợ, một kiếp đợi chờ
Rate this post

Ba ngày làm vợ, một kiếp đợi chờ

Đã hơn 40 năm từ ngày thống nhất đất nước, Việt Nam đã trải qua biết bao thăng trầm và hiện đang dần từng bước phát triển. Nhưng những câu chuyện ly kỳ nhưng đầy cảm động về những chiến sỹ đã chiến đấu kiêng cường đến phút cuối cùng.

Trước sự khốc liệt của chiến tranh, nhất là ở chiến trường Quảng Trị, có lẽ mỗi người lính chiến đấu trên mảnh đất này, không ai dám hy vọng mình sẽ sống sót trở về. Bức thư từ biệt của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh như một bản hùng ca bi tráng của những người chiến sỹ một khi ra đi là gần như cầm chắc cái chết  nhưng vẫn luôn giữ vững một niềm tin bất diệt vào chiến thắng cuối cùng của dân tộc.

Nhiều năm đã trôi qua, những nỗi đau đã trở thành quá khứ, người vợ trẻ Đặng Thị Xơ của liệt sỹ Lê Văn Huỳnh năm xưa nay đã 64 tuổi, tay run run thắp một nén nhang, bà lặng lẽ cúi đầu trước chân dung người đã khuất. Không hiểu vì khói nhang nghi ngút hay vì không kìm nén được nỗi xúc động trong lòng, hai mắt bà bỗng đỏ hoe như sắp khóc. Vụng về quệt nước mắt sau tay áo, bà kể: “Đó là bức thư mà tôi chưa bao giờ đọc hết một cách liền mạch từ đầu đến cuối. Bởi vì chỉ bắt đầu đọc đến dòng thứ hai thôi là tôi đã không cầm được nước mắt. Tháng 5/1973, gia đình nhận được giấy báo tử kèm chiếc ba lô đựng quân tư trang của anh nhưng trong ba lô không hề có lá thư này. Mãi đến tháng 5/1975, gia đình mới nhận được bức thư cuối cùng mà anh đã viết khi tiên đoán trước được cái chết của mình”.

Trong những dòng hồi tưởng về một miền ký ức xa xăm, bà Xơ rủ rỉ kể cho tôi nghe những câu chuyện xưa cũ khi mối tình của bà với chàng sinh viên khoa Cầu hầm, khóa 13, đại học Xây dựng tên Lê Văn Huỳnh bắt đầu chớm nở. Yêu nhau được ba năm, họ quyết định tổ chức đám cưới. Nói là đám cưới nhưng trong hoàn cảnh khó khăn lúc bấy giờ, họ chỉ trở thành vợ chồng trong tiếng vỗ tay và sự chứng kiến của người thân, bè bạn, hàng xóm láng giềng chứ không hề có cỗ bàn, bánh kẹo, thậm chí cô dâu, chú rể còn không có áo mới để mặc trong ngày lễ vu quy.

Bà Xơ cho biết: “Sau khi cưới vợ được ba ngày, anh trở lại trường, khi đó đang sơ tán ở Hà Bắc (cũ). Nhưng trở lại trường chưa được bao lâu, trước tình hình chiến sự ngày càng căng thẳng, tháng 1/1972, anh đã theo tiếng gọi của Tổ quốc, xếp bút nghiên lên đường đi chiến đấu. Chỉ đến khi nhận được bức thư đầu tiên của anh gửi về từ Quảng Trị, gia đình mới biết tin này.

 

Khi tôi hỏi tại sao bà không đi bước nữa khi tuổi đời còn rất trẻ, lại  không vướng bận chuyện con cái, bà lắc đầu: “Tôi còn chờ đi tìm, đón nhà tôi về. Cũng chính vì những lời anh dặn dò trong thư mà tôi không nỡ đi lấy chồng chừng nào chưa tìm đưa được hài cốt anh về. Từ ngày anh đi, đêm nào tôi cũng nằm thao thức không sao ngủ được, chỉ cầu trời khấn Phật làm sao sớm hoàn thành tâm nguyện của anh. Nhưng sau khi tìm đưa được hài cốt của anh đưa về an táng ở nghĩa trang quê nhà,  lúc nào tôi cũng cảm thấy rất nhẹ nhàng, thanh thản, không còn lo nghĩ nhiều như trước và cũng chẳng cầu mong thêm điều gì, như thể đang được sống bên cạnh nhà tôi”.

Hài cốt của liệt sỹ Huỳnh đã được gia đình tìm thấy và đưa về an táng, nhưng còn biết bao nhiêu đồng đội của anh sẽ mãi mãi phải nằm lại nơi đây bởi máu thịt đã bị bom đạn xé nát, trộn với đất Thành Cổ, hòa vào nước sông Thạch Hãn, nhưng cũng chính vì thế mà sẽ mãi trường tồn cùng sông núi quê hương.

Tháp Long Thọ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *